Trang chủ / Văn hóa - Nghệ thuật

"Thơ & chân dung"-tập thơ giàu cảm xúc, trữ tình và lãng mạn.

Như tin đã đưa, sáng ngày 7/4/2019 tại Hội trường O2 Garaden Hồ Văn Quán, quận Hà Đông, Hà Nội,Trung tâm thơ ca VN tổ chức ra mắt giới thiệu tác phẩm “ Thơ & Chân dung” của TTTCVN. Tại buổi ra mắt tập sách, Biên tập viên cao cấp KIM QUỐC HOA đã có bài phát biểu nhận xét, đánh giá và bình luận tập “Thơ & Chân dung” . Laodongsangtao.vn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

“THƠ & CHÂN DUNG”- TẬP THƠ TRỮ TÌNH,

GIÀU CẢM XÚC VÀ LÃNG MẠN

Kim Quốc Hoa

Tập “Thơ & Chân dung” do Trung tâm Thơ Ca VN chọn, biên tập, Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành (1/2019) là một ấn phẩm khá ấn tượng, trang trọng bởi nội dung phong phú, hình thức đẹp (bìa cứng), giấy tốt, trình bày bắt mắt và ít lỗi chính tả.

Đây là ấn phẩm đầu tay của Trung tâm Thơ ca VN, dày hơn 400 trang, khổ 16 cm x 24 cm được xuất bản chỉ sau 3 tháng ra mắt Trung tâm (10/2018-1/2019) là một kì tích của đơn vị.

Toàn bộ tập thơ với sự góp mặt của 287 tác giả, tổng số 592 bài đủ các thể loại: Thơ Lục bát, thơ tự do, thơ Đường luật, thơ ngũ ngôn, thơ 4 câu,v.v…

Trong số các tác giả có 285 người trong nước thuộc 22 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội (nhiều nhất), Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hưng Yên, Hòa Bình, Ninh Bình, Thái Bình, Quảng Ninh, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Đắk Lắk, Bình Định, Khánh Hòa, Tp Hồ Chí Minh và Cà Mau. Hai tác giả người Việt Nam ở nước ngoài: Mỹ và CHLB Đức.

Tập thơ có sự tham gia của 16 Câu lạc bộ thơ thuộc Trung tâm: Quận Hà Đông ( 29 tác giả, 86 bài), Hoài Đức (26 tác giả, 50 bài), Sơn Tây (22 tác giả, 49 bài), Thăng Long (19 tác giả, 43 bài), Hương Lúa (18 tác giả, 40 bài),Thường Tín (16 tác giả, 32 bài), Hải Phòng (12 tác giả, 30 bài), Đan Phượng (9 tác giả, 23 bài), Thanh Xuân (7 tác giả, 18 bài), Quốc Oai (6 tác giả, 13 bài), Vân Đường (6 tác giả, 13 bài), Hòa Bình (5 tác giả, 7 bài), Chương Mỹ (3 tác giả, 12 bài), Quảng Ninh (3 tác giả, 7 bài), Tuyên Quang (2 tác giả, 4 bài).

Phần Chân dung thơ ca: Có 13 tác giả, 63 bài, chủ yếu là các vị lãnh đạo Trung tâm, Công ty CP Truyền hinh TVC, Công ty CP Thơ ca – DL & KS Việt Nam,v.v…

Phần Hội ngộ thơ ca: có 73 tác giả, 158 bài thuộc 22 tỉnh trong nước và 2 tác giả là người Việt Nam ở nước ngoài như Bùi Thảo (Mỹ) và Nguyễn Thị Tú (CHLB Đức).

Trong 287 tác giả có 83 tác giả nữ (chiếm khoảng 29%), nhiều nhất ở Thủ đô Hà Nội. Phân chia số bài: 54 tác giả có 1 bài; 120 tác giả có 2 bài; 80 tác giả có 3 bài; 12 tác giả có 4 bài; 15 tác giả có 5 bài; 6 tác giả có 6 bài và 1 tác giả có 15 bài xếp ở 2 phần (Chân dung thơ 7 bài, CLB Thơ Thanh Xuân 8 bài).

Tính bình quân mỗi tác giả có 2,6 bài thơ.

Về thể loại: Có khoảng hơn 60 % là thơ Lục bát; 27 % là thơ Tự do; 13 % là Thơ Đường luật,v.v…Có tác giả 4/4 bài đều là thơ Đường luật như tác giả Mai Xuân Hưng,v.v…

Về chân dung (tức ảnh)  và địa chỉ kèm họ và tên tác giả: Có gần 250/287 tác giả có ảnh chân dung, còn khoảng 17% -20% số tác giả không có ảnh, chỉ có họ và tên. Rất nhiều tác giả chỉ có tên và ảnh, không có địa chỉ cụ thể, không có số điện thoại, thậm chí rất nhiều tác giả địa chỉ sơ sài, có tác giả chi  có họ và tên.

Ấn phẩm mang tựa đề Thơ & Chân dung nhưng trong cả 3 phần lại chỉ Phần I mang tựa đề CHÂN DUNG THƠ, Phần II là THƠ HỘI VIÊN TRUNG TÂM THƠ CA VIỆT NAM, Phần III là HỘI NGỘ THƠ CA, trong khi tập sách 100% chỉ là thơ chứ không có bản nhạc hay ca khúc nhưng vẫn đề THƠ CA là chưa hợp lí.

Tập Thơ & Chân dung phản ảnh phong phú, đa dạng, đa chiều, với nhiều thể loại, đó là nội dung bao gồm ca ngợi Tổ quốc, non sông, tình yêu quê hương, biển đảo,  đời sống gia đình, đời sống tâm linh, tình mẫu tử, quan hệ vợ chồng, thầy trò, tình bạn, đồng hương, đồng ngũ, đồng môn, những kí ức, những kỉ niệm xưa nay, thưở vàng son, niềm khát khao hạnh phúc,v.v…

1.Trước hết, là thơ về thơ, về tình yêu thơ, lấy thơ làm điểm tựa để phản ánh nội tâm. Tác giả Kiều Vinh trong bài “Sợ”, viết: “ Sợ ngày ấy, sợ bây giờ/ Câu thơ viết dở cứ ngờ ngợ yêu/ Sợ nắng sớm, sợ mưa chiều/ Sợ cơn gió cả cánh diều đứt dây”. Còn tác giả Vũ Thịnh trong bài “Ngày hội Lục bát”, tâm sự: “Nặng tình nuôi dưỡng ước mơ/ Thăng Long- Hà Nội bài thơ dâng tràn”. Tác giả Nguyễn Thị Minh với bài  “Đi hội Thầy”, bày tỏ: “ Vào hang Thánh Hóa nơi ngài tịch/ Xuống động hang Thần chốn tướng ngời/ Danh sĩ bút tiên thơ vịnh cảnh/ Chân tu kinh phật kệ luân hồi”.

Cũng là cách lấy thơ để trải cõi lòng mình, tác giả Đặng Xuân Chiến cảm tác: “ Câu thơ gửi khúc dân ca/ Trao em lồng tiếng giao hòa cho hay/ Phím đờn sâu lắng cơn say/ Khát khao khắc khoải bấy nay diệu kì”. Còn tác giả Lương Thu Lan trong bài  “Mừng câu lạc bộ thơ Quan Nhân” coi thơ như là “mái nhà chung”: “Yêu thơ, tôi lại yêu hoa/ Thả hồn Lục bát, ngân nga tiếng lòng/ Làng thơ, ấm mái nhà chung/ Duyên kì ngộ quyện, hòa cùng nước non”. Tương tự vậy, tác gỉa Nguyễn Xuân Ư, khát quát về thơ trong bài “Khoảnh cách và thời gian” : “ Xa nhau ngày đã hẹn/ Trong cách vời dã man/ Những câu thơ đặc quánh/ Mang hình hài thi nhân”.

Tóm lại, làm thơ về thơ là một nét đặc trưng, một trạng huống cảm xúc độc đáo, bộc lộ những tâm tư riêng biệt, khát vọng tự đáy lòng với tình yêu thơ cháy bỏng, trân trọng thơ và đam mê sáng tác, bởi thơ là tiếng lòng, cho ta một sức sống, một sự gắn kết yêu thương như bài thơ “Tiếng thơ” của Vũ Quốc Cường : “ Tiếng thơ tiếng của trái tim/ Tiếng thơ mang lại niềm tin cho người/ Tiếng thơ giúp ích cho đời/ Tiếng thơ gắn bó mọi người với nhau”.

Còn phương pháp và cách thể hiện trong thơ thì thi sĩ Nguyễn Mạnh Thắng chỉ ra rằng: “ Thơ không dẫn ngòi bút cầy theo luống/ Bọn chúng mình thả chữ đuổi mà chơi” (Nói với bạn). Có lẽ đó là sự chiêm nghiệm khiến nhà thơ Nguyễn Mạnh Thấng thành công trên con đường thơ sáng tạo của mình. Ông đã xuất bản nhiều tập thơ trữ tình và hầu như bài nào cũng thành công.

Có lẽ vì tâm huyết với thơ, trong mỗi chúng ta đều rộn ràng” tiếng của trái tim” thể hiện niềm lạc quan, yêu đời, yêu thơ, mạnh dạn làm thơ, phần lớn các tác giả là cây bút nghiệp dư nhưng làm thơ khá hay, giàu cảm xúc.

2. Trong tập “Thơ & Chân dung” cũng mang đậm chủ đề Tình yêu quê hương, đất nước, chân lí cuộc sống mới, niềm tin mới. Trong bài: “Lẽ sống”, tác giả Thanh Bình nêu ra một triết lí: “ Sống cống hiến là việc làm đáng nể/ Đem tâm can, trí tuệ hiến dâng đời/ Làm việc lành để tâm trí thảnh thơi/ Chân- Thiện-Mỹ, suốt đời là lẽ sống”. Cũng theo mạch cảm xúc ấy, nhà giáo-nhà thơ Dương Thụy Anh bộc bạch: “Cái thời chân đất, áo mưa/ Nắm cơm với mấy cọng dưa, muối vừng/ Cái thời chua ngọt đã từng/ Nắng mưa gian khổ xin đừng đổi thay.” Với tác giả Dương Thụy Anh, tôi còn thích bài thơ “Kính” (lục bát) dí dỏm, hài hước, trí tuệ: “Kính gửi là cái giời ơi! Gửi đi chẳng biết tới nơi khi nào?”. Tôi cũng thích cách miêu tả “Với mùa thu Hà Nội” của tác giả Nguyễn Huy Hoàng khiến ta gợi nhớ hình ảnh Hà Nộ xưa: “Đâu xao xác heo may chiều quán nhỏ/ Tiếng leng keng xe điện bến tan tầm/ Điệu rao bánh buồn như câu vọng cổ/ Lối em về thoang thoảng dạ hương lan”. Trong bài “Nhớ quê”, tác giả Thanh Sơn khắc họa: “Quê tôi có một ngôi chùa/ Có cây ăn quả bốn mùa sum suê/ Nắng chiều lan tỏa làng quê/ Chuông chùa vang vọng, gió về thoảng qua”. Tác giả Vũ Khắc Toản miêu tả đồng quê thật trữ tình trong bài thơ “Quê tôi” như một bức tranh sống động, giàu màu sắc: “Quê tôi bãi mía nương dâu/ Dòng sông uốn lượn cây cầu bắc ngang/ Bãi bồi chín đỏ vườn cam/ Ngoài đồng lúa chín trải vàng như tơ”. Cũng khắc họa cảnh đẹp nông thôn mới, ở một cung bậc khác, trong bài “Hồn quê” tác giả Vũ Thị Loan viết: “ Say lòng hương lúa gió đưa/ À ơi lời mẹ mới vừa hôm nao/ Hoa xoan rụng tím bờ ao/ Nắng mưa đầu dãi thuở nào đắng cay?”. Tác giả Vũ Duy Hưởng trong bài “Quê hương” miêu tả cảnh và tâm trạng con người cứ quấn quýt vào nhau, hòa quyện: “Quê hương thổn thức lòng ta/ Vít cong nỗi nhớ quyện hòa không gian/ Quê hương hội tụ non ngàn/ Tình cha, nghĩa mẹ ngập tràn đời con”.

Tôi có ấn tượng với chùm thơ cuả tác giả Lưu Thị Nghĩa, điển hình là bài “Chiều quê” hay bài “Mỗi lần giặt áo”: “Chiều về bóng nắng ngẩn ngơ/ Dòng sông nước chảy gió lùa bụi lau/ Bãi bờ xanh ngắt nương dâu/ Đường làng lững thững đàn trâu trở về”. Nhà giáo Nguyễn Thị Ngọc Mai, tác giả “Người đàn bà đi vào đêm” đi trên đồng quê mà trái tim bùng lên nỗi khát vọng tình yêu, thể hiện trong bài “Hương lúa”: “ Em đi trong hương ngát/ Vị đồng quê ngọt ngào/ Trái tim ai nhóm lửa/ Để cháy bùng khát khao?”

Cũng mạch tâm trạng ấy, trong bài “Tình xưa bến cũ”, tác giả Bũi Quang Nghĩa hoài niệm về một dòng sông quê hương ngày nay không còn trong xanh, rộn ràng thuyền bè đi lại, không còn rôm rả cua cá như ngày xưa: “Sông quê như dải lụa xanh/ Con cua, con cá, mái tranh quê nghèo/ Thuyền ơi sao gác mái chèo? Người đi mà vẫn mang thêm nỗi buồn”. Thiếu tướng Vũ Anh Thố tự hào biết bao về quê hương Hà Nam tỏa sáng những “tinh hoa”: “Reo vui nghênh tiễn thuyền rồng/  Đưa vua về đất Thăng Long kinh kì/ Thời gian lặng lẽ trôi đi/ Quê ta càng sáng những gì tinh hoa”. Đại tá Phạm Văn Thiều trong bài “Kí ức Tháng Chạp”, viết: “Chiến công sáng ngời giữa trời Hà Nội/ Năm xưa, hôm nay theo lời Bác dạy/ Đất nước này mãi mãi đẹp tươi”,v.v…

Có thể nói, hàng trăm bài thơ viết về Tổ quốc, quê hương, xóm làng yêu dấu như thế mà không thể dẫn ra hết được trong bài viết này như của các tác giả: Hoàng An, Bùi Quang Nghĩa, Đôn Văn Lục, Phạm Bích Mậu, Nguyễn Quốc Quyền, Nguyễn Thj Tuyết, Nguyễn Hoàng Yên, Trương Nam Anh, Nguyễn Ân, Nguyễn Tấn Ban, Trần Phú Dương, Nguyễn Thế Dư, Lê Văn Liêm,Trần Nguyễn Đề, Nguyễn Như Quỳnh, Nguyễn Công Tiếp, Lương Duyên Thắng, Nguyễn Thị Cẩm Vân,v.v…

3.  Bên cạnh chủ đề rất rộng nêu trên đây, có rất nhiều bài thơ đề cập đến lĩnh vực tâm linh, việc đi lễ chùa, cầu phật độ, gửi gấm niềm tin vào cõi phật, tưởng nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ hi sinh vì Tổ quốc và bảo vệ biển đảo quê hương. Trong bài “Đêm Trường Sơn”,  nhà thơ Phạm Hữu Chính tưởng nhớ linh hồn các anh hùng, liệt sĩ: “Đêm nghĩa trang Trường Sơn lộng gió/ Thương những người nằm dưới đất sâu/ Những tiếng nấc không thành lời, thống thiết/  Vọng về đây da diết đêm thâu”. Trong một cảm xúc khác, tác giả Tạ Đức Trọng xúc động nhớ tới sự hi sinh quả cảm của 64 chiến sĩ trên đảo Gạc Ma năm 1988 đã đặt ra câu hỏi lớn: “Trường Sa ơi! Đất liền ơi!/ Gạc Ma hôm ấy ngàn đời còn đau/ Việt-Trung liền núi chung cầu/ Hỏi ai gây cảnh đánh nhau tương tàn?”. Cũng với đề tài về Trường Sa, tác  giả Đinh Thị Hà gửi niềm tin trong bài “Tiếng ru người chiến sĩ đảo xa”:  “Trường Sa sóng biển bao la/ Dẫu xa đến mấy tình ta vẫn gần/ Trường Sa đâu có ngại ngần/ Bão giông cách trở vẫn gần bên em”. Tương tự, tác giả Trần Văn Lung  viết “Tạm xa người lính đảo” kiên cường: “ Em đợi anh người lính đảo/ Giữ trùng khơi con mắt bão/ Ta tự hào hai tiếng Việt Nam ơi!/ Em, con gái hậu phương gửi người lính đảo”.Tác giả Vũ Thị Kim Liên trong bài “Gửi nhớ cho anh” nghĩ về cây phong Ba được trồng trên đảo, trăn trở nỗi nhớ “ Xa đảo rồi em thao thức từng đêm/ Nhớ những lúc anh đứng trên điểm gác/Gió mặn mói tiếng lá bay xáo xạc/ Sóng thét gào giữa biển đảo của ta”,v.v…

Về chủ đề tâm linh, trong mỗi chúng ta, rất nhiều người để tâm hướng về cõi phật, mang tâm phật, thờ Phật, hướng thiện. Tác giả Nguyễn Hữu Quách có cả một cụm 4 bài thơ: “ Ngày lễ Vu lan”, “Ngẫm”, “Việc chùa” và “Chùa làng tôi” , có những câu: “Tần ngần chiếc lá thu rơi/ Lắng nghe chuông vọng lòng tôi bồi hồi/ Nhẹ nhàng rơi, lá vàng rơi/ Đừng làm lay động phia trời âm dương” (Ngày lễ Vu lan); hay như “Tiền đường Hộ pháp uy nghi/ Hướng thiện lường ác thị uy răn đời/ Thượng điện Tam Thế rạng ngời/ Hương trầm tỏa quện chuông vời trang kinh”. Tác giả Đào Huy Tùng trong bài “Thái sư Á vương Đào Cam Mộc”, nhấn mạnh:  “Một bí quyết như tia chớp lửa/ Vạch trời mây sáng Tổ quốc giang sơn/ Tám đời Lý cùng toàn dân tiến tới/ Để Đại Nam bền vững nổi cơ đồ”.

Chùa Hương là chốn tâm linh đắc địa từ cổ xưa của miền Bắc, có biết bao thi sĩ đã viết và ngâm vịnh, đối với tác giả Nguyễn Văn Chúc có cảm xúc khác lạ trong bài “Lưu luyến Hương Sơn”: “Lãng đãng mây du hồn viễn khách/ Dập dềnh sóng vỗ mạn thuyền nan/ Ai xuôi Yến Vỹ soi tâm thiện/ Ta đến Hương Sơn thưởng cõi nhân”.

Một cái nhìn khác về Phật pháp, về cõi Phật Tổ Như Lai khi thăm cố đô Huế, tác giả Đào Trọng Tú, viết: “Sơn tô Phật Tổ đài sen ngự/ Vàng rát Như Lai nét sáng ngời/ Chuông chùa sớm tối vang sông núi/ Mõ giục canh khuya vọng đất trời”.

4.  Nhưng trong tập “Thơ & Chân dung” tôi muốn nhấn mạnh đến một chủ đề có tính chủ đạo, nổi bật, mạch nguồn thơ sâu đậm, ấn tượng nhất, sâu sắc nhất, chất thơ cũng giàu cảm xúc hơn cả, đó là viết về hạnh phúc gia đình, tình yêu chung thủy, công cha, nghĩa mẹ, mà nổi bật nhất là hình tượng người mẹ hiền thục, lam lũ, đảm đang, suốt đời hi sinh vì chồng, con, cháu. Trong bài “Mẹ tôi”  tác giả Đào Thu Hương miêu tả: “Mẹ tôi cõng nắng gội mưa/ Ruộng đồng lặn lội sớm khuya nhạt nhòa/ Chắt chiu mòn héo thịt da/ Nuôi con, dạy cháu nết na hàng ngày”. Còn tác giả Hà Thị Kim Đối viết về Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ (Quảng Nam) có 9 con trai là liệt sĩ thật da diết, cảm động: “Bữa cơm thơm trắng hàng ngày/ Dọn mâm chín bát mẹ bầy đợi con/ Hi sinh thầm lặng sắt son/ Mẹ ngồi mẹ đợi các con hàng ngày”. Cùng một tâm thế kính trọng, thương xót mẹ, tác giả Trần Thị Ngọc Viên bộc lộ sâu sắc trong bài “ Mùa đông thương mẹ”:  “Mưa rơi rả rích ngoài hiên/ Nghe xào xạc lá qua thềm mùa giông/ Những ngày chớp giật mưa dông/ Lòng con thương mẹ nói không nên lời/ Nhìn theo một cánh sao rơi/ Giật mình thảng thốt sợ rồi mẹ đi”.

Tác giả Phan Thị Tùy viết về mẹ bằng tình thương yêu vô hạn đến rung động đất trời , trong bài “Thương mẹ” : “Tháng năm phai nhạt nắng mưa/ Ngả nghiêng mặt đất đung đưa gió trời/ Chạnh lòng thương nhớ mẹ tôi/ Bỗng rưng rưng lệ gió bời bời ru!”.

Cũng với đề tài này, tác giả Trần Ngọc Huân miêu tả cảnh lam lũ, tần tảo của người mẹ thật sâu sắc: “Ngày xưa dáng mẹ thanh cao/ Sớm hôm tần tảo quản nào chợ xa/ Trồng rau, nuôi lợn, thả gà/ Chỉ mong đủ gạo cả nhà dược no”. (Mẹ quê).

Nói về tình nghĩa vợ chồng son sắt, tác giả Đào Thị Nọi có bài “Mừng chồng tăng sao” (tức được thăng quân hàm, chứ trong bài sửa là “tặng sao” là không đúng) bằng thơ Đường luật khá ấn tượng: “Mừng chồng quân ngũ được tăng sao/ Người vợ yêu thương thật tự hào/ Chính phủ trao cho chàng trọng trách/ Chúc anh phấn đấu mãi lên cao”. Tương tự vậy, tác giả Lê Minh Ngọc trong bài “Thương vợ”  cũng khá mặn nồng: “ Đã đi hơn nửa cuộc đời/ Thủy chung son sắt chỉ tôi với bà/ Con mình thương mẹ, thương cha/ Mình thương con, cháu, ông bà chăm nhau”.

Còn nói về công ơn cha mẹ, ca dao cổ có câu “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Theo mạch cảm xúc ấy, tác giả Tân Công trong bài “Cho con” có câu “Cha cho chân sắt vai đồng/ Mẹ cho con trái tim hồng vị tha”. Tiến sĩ Y khoa, nữ nhà thơ Đỗ Thị Minh Cầm, tôi được biết chị đã xuất bản 5-6 tập thơ do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành như các tập: “Anh và biển”, “Hoa cải bay đi”, “Hoa đỏ trên lối cũ”,  “Bốn mùa thơ”, ”Anh của những giấc mơ”, nhưng tham gia với “Thơ & Chân dung” Đỗ Thi Minh Cầm có hai bài khá ấn tượng: “Nước mắt đàn bà” và bài “Nỗi lòng”, có những câu: “Người đàn bà thường khóc khi hạnh phúc/ Nước mắt rơi cả lúc được yêu”, hay người đàn bà đó cứ dùng dằng, dùng dằng dôi ngả, thương nhớ ở ai, rồi cứ day dứt vì con, trăn trở sự lựa chọn hạnh phú: “Thương người lòng chẳng thể ngưng/ Thương con mẹ cũng ngập ngừng bước chân/ Bao lần trăng sáng ngoài sân/ Bồng con, lòng lại tần ngần, người ơi!”,v.v…

Có thể nói, tổ ấm gia đình là một đề tài vĩnh cửu, nguồn cảm hứng vô tận, cho nên trong mỗi con người  “Giành cho tổ ấm dài lâu/ Gia đình là chốn chẳng đâu sánh bằng” (Tâm sự về hưu-Thơ Kim Quốc Hoa), là như thế!.

Còn nhiều chủ đề, nhiều nội dung nữa mà do thời lượng tôi không thể trình bầy nhiều hơn, bộc lộ hết ra đây được. Tóm lại, tập “Thơ & Chân dung” thật phong phú, đa dạng, sâu sắc, giàu chất thơ, chất họa, chất nhạc, rộng mở về ngôn ngữ, trữ tình là vậy. Không có bài thơ nào thuộc dạng châm biếm, đả kích thô kệch. Mạch trữ trình, lãng mạn là âm hưởng chủ đạo, nó bay bổng, quện vào đời sống tinh thần, niềm lạc quan, lắng sâu trong tiềm thức mỗi tác giả, thúc giục con người hãy biết yêu thương, biết sẻ chia, biết khổ đau và ước mơ hoài bão hướng tới chân-thiện-mĩ. Đó là vẻ đẹp tâm hồn, giá trị văn hóa trong mỗi tác giả, trong toàn thể chúng ta.

biên tập, tham gia quyết định và người đứng đầu chịu trách nhiệm cuối cùng kí duyệt nội dung, duyệt bìa sách, kí hợp đồng với Nhà xuất bản, nhà in và quyết định phương án phát hành.

Hà Nội, ngày 7/4/2019