Trang chủ / Công nghệ - Môi trường

Thuật phong thủy và công trình kiến trúc

PHẦN 1: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ VẬT THỂ HỮU HÌNH ĐẾN THUẬT PHONG THỦY

TS. KTS. Vũ Thế Khanh

Nếu chỉ nói hai từ ‘Phong thủy”( Gió và Nước )  thì chưa thể hiện đặc thù của địa lý phong thủy, mà phải nói đến “Thuật Phong Thủy” thì mới trở thành môn khoa học nghiên cứu về mối tương quan giữa môi trường và sự sống. Thuật phong thủy là môn nghiên cứu về sự tương tác của THỦY KHÍ ĐỘNG HỌC, tìm ra các thông số đặc trưng cơ bản gây ra sự biến thiên dòng đối lưu của Gió và Nước, tạo thành  những hiệu ứng dòng xoáy năng lượng. Các hiệu ứng này tương tác lên công trình (là vật trung gian), và liên đới   tới chủ thể của công trình (là con người sở hữu và sử dụng công trình đó). Hiểu được các yếu tố đó và điều khiển hoặc nương theo  sự vận hành của nó  gọi là Thuật Phong Thủy.Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển hóa các dòng đối lưu của GIÓ và  NƯỚC để tạo ra một môi trường tương tác điều hòa, phù hợp và thuận lợi cho nhịp sinh học của con người thì đó mới là mục đích cơ bản  của thuật Phong Thủy.

1.1 Cần phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm Phong Thủy (PT) và Thuật Phong Thủy(TPT):

Phong Thủy là âm Hán Việt, dịch ra Việt ngữ là Gió và Nước.

Còn khi nói đến Thuật Phong Thủy tức là muốn nói đến kỹ nghệ (thủ thuật) điều khiển và ứng dụng tính năng của gió và nước, đó là một môn khoa học nghiên cứu hiệu ứng của thủy khí động học.

Gió và Nước khi lưu thông gặp vật cản sẽ tạo nên phản lực tức  hiệu ứng dòng đối  lưu

Hãy quan sát một vỉa đá nằm án ngữ trong dòng sông, dòng suối sẽ gây ra lực cản làm thay đổi đường sức của dòng chảy, và ngược lại, vỉa đá đó cũng sẽ bị một lực tương tác ngược chiều do lưu tốc gây ra. Phương, chiều, cường độ, trường độ, gia tốc...của lực tương tác phụ thuộc vào kích thước, vị trí, hình thái của vỉa đá so với dòng chảy.

Công trình, vật  Kiến trúc cũng xem như vỉa đá nằm án ngữ trong dòng chảy, tùy thuộc vào vị trí, kích thước, hình dáng của công trình và của các yếu tố môi trường xung quanh công trình. Chúng sẽ tạo ra biên độ cực đại nếu chúng có tần số đồng pha (xảy ra sự cộng hưởng) và tạo ra biên độ cực tiểu nếu giữa chúng có tần số  nghịch pha. Đó gọi là hiệu ứng Phong Thủy.

1.2.Thuật Phong thủy và yếu tố địa lý môi trường.

Theo quan điểm biện chứng thì coi Phong Thủy là thực thể hữu hình. Nó là dạng vật chất có thể quan trắc được và sự ảnh hưởng của nó có thể định lượng được.
Sự chênh lệch về thế năng (áp suất) gây nên dòng đối lưu (Đường sức)   Dòng đối lưu chịu  sự anh hưởng của yếu tố địa lý, bao hàm nhiều thông số như địa hình, địa vật, phương vị, vi khí hậu đặc thù của vùng địa lý đó.

Bởi vậy, cốt lõi của thuật Phong Thủy chính là môn khoa học nghiên cứu về sự ảnh hưởng của môi trường (địa lý và tâm sinh lý) đến nhịp sinh học.

a. Hình thể công trình và môi trường khí ảnh hưởng đến Thuật Phong Thủy :

Mỗi loại Hình thể công trình sẽ tạo ra hiệu ứng đặc trưng, gọi là HIỆU ỨNG HÌNH THỂ, nó có thể gây ra những Kình khí (kinh dị diện) hoặc tạo ra Hòa khí (an bình diện) cho người sử dụng.

Hình thể tối ưu của công trình sẽ làm giảm đi rất nhiều áp lực của tải trọng gió và giảm thiểu tác hại của những dòng xoáy gây bất lợi cho công trình và người sử dụng. 
Có những “đường dẫn khí” tạo sự hài hòa và an bình trong căn nhà. Cửa đi, cửa sổ là “trạm đón khách”, phải tạo ra tâm thế hoan hỷ, thân thiện. Đương nhiên nếu chỉ đón “khách vào” mà không có “lối ra” thì công trình trở thành “hũ nút” và “khách khí” không thể lưu thông, gia chủ sẽ có cảm giác tù túng, ngột ngạt. Do vậy muốn dẫn khí vào công trình thì phải thiết kế ‘đường thoát khí”. Nhưng nếu bố trí hệ thống cửa thoát khí không hợp lý thì cũng gây ra “loạn giao thông”.

Có nhiều trường hợp người trong phòng mở cửa ra, bị tiếp xúc ngay với luồng khí lạ từ bên ngoài, nhiệt độ và áp suất chênh lệch đột ngột thì rất dễ bị cảm khí (hay còn gọi là “Trúng phong”). Các nhà thiết kế Kiến trúc cần phải lưu ý đến hiệu ứng Thuật Phong Thủy để thiết kế sao cho công trình có một hệ thống “thông gió cấp nhiệt” tối ưu, để có thể đón luồng sinh khí an lành từ ngoài vào trong công trình một cách khoan hòa.

Thông gió của công trình ví như cơ chế hố hấp của con người: khi không khí từ bên ngoài vào phổi, không khí sẽ được thanh lọc và được sưởi ấm dần lên bởi khoang mũi, để tránh cho phổi phải tiếp xúc trực tiếp với khí quá lạnh hoặc quá nóng và bụi bặm từ môi trường bên ngoài.

b. Hướng công trình và Thuật Phong Thủy:

Tục ngữ có câu “Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam” chính là nói đến hướng công trình. “Lấy vợ hiền hòa” thì gia đình yên ấm, hạnh phúc,  còn “làm nhà hướng Nam” thì buổi sáng tránh được nắng chói (phía Đông), buổi chiều không bị nắng xiên khoai  phía tây hun nóng. Hướng Nam có thể đón gió mát về mùa hè và tránh gió lạnh mùa đông. Tuy nhiên, điều này chỉ phù hợp với những vùng đồng bằng Bắc Bộ đón gió từ Biển Đông thổi về, còn những vùng địa lý khác thì lại không tương hợp. Nhiều người áp dụng câu này một cách máy móc, bạ chỗ nào cũng vận dụng thành ra lợi bất cập hại. Các công trình thường áp dụng thế cơ bản là “Tọa sơn, đạp thủy”. “Tọa Sơn” ý nói là đằng sau lưng dựa vào núi (tượng trưng cho sự hậu thuẫn và nương tựa), núi vừa vững chãi, vừa kín đáo, có thể che chắn tốt, lại không bị xung lực dòng khí tác động từ phía sau (gọi là hậu thuẫn). “Đạp Thủy” ý nói là phía trước có dòng nước thì nó vừa mát mẻ, tầm nhìn khoáng đãng (tượng trưng cho sự lưu thông, khoát đạt). Ngay cả con đường phía trước cũng được ví như là dòng “lưu thủy” (ngựa xe như nước)… đó là một trong những thế chuẩn, thế thuận (Lưng tựa vào núi, hướng nhìn về sông).

Ngược lại, nếu quay lưng xuống nước (“bối thủy”)  thì hở lưng, rất nguy hiểm, không có hậu thuẫn, không có đường lùi. Trong  trận mạc cũng vậy, rất ít tướng lĩnh sử dụng thế trận lưng quay xuống dòng sông  và đầu cắm vào núi .

Trong lịch sử chiến tranh, cũng có trận đánh gọi là “bối thủy”, đó là trận tử chiến, một đi không trở lại,  khiến người lính chỉ còn con đường duy nhất là xông lên phía trước, không còn đường lùi (vì sau lưng là sông). Lấy con người làm ví dụ: cơ thể sống có thể hình và thể siêu hình. Thể hình là cơ thể vật lý, thể siêu hình là hồn, vía và  phách. Khi ta ngồi mà nếu phía sau lưng trống trải thì cơ thể sẽ tự động điều phối một lực lượng linh giác ra phòng bị phía sau. Cho dù ta không chủ tâm nhìn ra phía sau nhưng tự cơ thể vẫn điều phối một phần năng lượng để cảnh giới sau lưng, khiến cho ta không thể tập trung toàn bộ nguồn năng lượng cho phía trước. Trường hợp đó gọi là bị phân tâm, hoặc bị phân tán năng lượng.

Với công trình kiến trúc cũng vậy, nếu ở phía sau trống trải hoặc bị hở sườn thì gia chủ luôn cảm thấy bất an. Vì thế, khi thiết kế công trình cũng cần chú ý đến sự che chắn, tạo thế vững chãi, ổn định ở phía sau (gọi là hậu thuẫn), còn phía trước phải thoáng đãng , không bị cản trở tầm nhìn (gọi là Minh đường sáng sủa).

c.Định vị công trình ảnh hưởng đến Thuật Phong Thủy:

Dễ nhận thấy rằng vị trí công trình nếu đặt không hợp lý thì lợi bất cập hại. Không thể đặt công trình vào cuối hướng gió thổi từ vùng không khí bị ô nhiễm (nhất là vùng công nghiệp có các nhà máy hóa chất, khói bụi, chăn nuôi, bãi rác, tha ma …), và cũng không được đặt công trình ở cuối nguồn nước thải, hoặc do các nguồn hóa chất độc hại khuyếch tán, xâm thực. Nhiều làng mạc vùng quê bị hai yếu tố PHONG THỦY  Ô NHIỄM này mà dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh ung thư phổi, ung thư gan, ung thư da... rất cao, tuổi thọ bị suy giảm.

Điển hình về lỗi vị trí trong Thuật Phong Thủy là nhà Máy Hóa Chất Việt Trì: Nước thải  Nhà máy đổ ra ở đầu nguồn thành phố, mà người dân lại dùng nước sinh hoạt ở cuối nguồn, Hay là khu Cao Xà Lá Hà Nội,  hoặc Nhà máy nhiệt điện Ninh Bình và một số nhà máy xi măng, lò nung, nhà máy cán thép... lại đặt  ống khói nằm ở đầu gió của một khu dân cư, trường học, bệnh viện....

Vì thế, khi chọn nơi để đặt công trình, rất cần có kiến thức về Thuật Phong Thủy để lựa chọn vị trí và hướng đón gió cho công trình sao cho tối ưu nhất, tránh được những hiệu ứng bất lợi gây ra.

d. Hình thái địa hình, địa vật, quần thể công trình ảnh hưởng đến Thuật Phong Thủy
Hiệu ứng phong thủy còn do địa hình, địa thế sinh ra, trước hết là do cao trình của nền đất. Đất chỗ cao chỗ thấp tạo thế năng cho nước. Nước luôn chảy từ trên cao xuống thấp (do chênh lệch thế năng). Còn gió sẽ thổi từ chỗ áp suất cao đến nơi có áp suất thấp. Khi gặp các vật cản có kixhs thước lớn bé, rộng hẹp khác nhau thì dòng lưu tốc cũng tạo ra các xung lực khác nhau. Cũng như đối với công trình thủy điện, khi ta xây đập để chấn dòng chảy, nước sẽ tự dâng lên tạo thành thế năng rất lớn. Và khi thế năng đó được giải phóng sẽ chuyển thể thành động năng, đó là hiệu ứng Năng lượng,

Thế năng của đập thủy điện được tạo bởi sự chênh lệch cao độ  giữa thượng lưu và hạ lưu.

Thế năng của áp lực khí tác động vào công trình cũng vậy, đó là sự chênh lệch áp suất dòng khí giữa “thượng lưu” của công trình (là hướng gió đẩy)  và hạ lưu” (hướng gió hút).

Khí động học tác động vào công trình trình cũng được mô phỏng như thủy động học tác động vào con tàu chạy trên sông.. Kích thước, hình dáng bên ngoài, độ mịn và chất liệu của mặt tiếp xúc... cũng sẽ tạo ra ứng suất (pháp tuyến, tiếp tuyến) gây ra chuyển vị thẳng (hoặc xoay, xoắn, uốn..,)  dao động (rung lắc).

1.3. Thuật Phong Thủy với yếu tố Vật thể ...

Thuật Phong Thủy có thể áp dụng cho một công trình độc lập, cá thể, nhưng cũng có những bài toán về Thuật Phong Thủy áp dụng cho cả một vùng rộng lớn (như quy hoạch tiểu khu, quy hoạch vùng lãnh thổ trong đề án kiến trúc), thậm chí quy hoạch ở tầm chiến lược cho cả một quốc gia.

Làm công tác quy hoạch phải có tư duy quy hoạch tầm quy mô quốc gia, sau đó mới đến tầm quy hoạch vùng miền, thành phố, rồi đến quận, huyện và rồi mới đến quy mô công trình, hoặc căn phòng cụ thể, rồi trong từng căn phòng lại có những bút pháp bài trí nội thất cho từng tiểu tiết khác nhau.

Như vậy, thuật Phong Thủy phải được giải mã từ đại cục đến tiểu cục, từ tổng thể đến cụ thể, từ cao đến thấp,  từ rộng đến hẹp, từ lớn đến nhỏ. Nó đòi hỏi chuyên gia về Thuật Phong Thủy phải có kiến thức tổng hợp (quy hoạch, cấu tạo kiến trúc, môi trường sinh thái, thủy khí động học, khí tượng thủy văn, văn hóa Tâm linh…) thì mới tránh bị sa đà vào tiểu cục “tham bát bỏ mâm”, “thấy cây mà không thấy rừng”, và tránh bị rơi vào kiến giải mang màu sắc mê tín dị đoan như một số người đang “chém gió thành bão” vung vít về Phong Thủy,

Sự biến hóa của PHONG THỦY phụ thuộc vào cảnh quan thiên nhiên “thiên hình vạn trạng” do vậy Thuật Phong Thủy cũng rất mênh mông kỳ ảo, biến hóa xoay vần theo lực kiến tạo của hành tinh và theo thời cuộc do con người chủ động tạo ra.

Để có một cách nhìn cụ thể, cần chế ra các đồ hình thực nghiệm để quan trắc đường sức của dòng khí cũng như của dòng nước.

Kỳ sau:  Phần 2. SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ  PHI VẬT THỂ ĐẾN THUẬT PHONG THỦY